NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ BỆNH SỞI 

     Bệnh sởi có tên tiếng Anh là measles hoặc rubeola, là một bệnh truyền nhiễm cấp tính với các triệu chứng sốt, phát ban, chảy nước mũi, ho, mắt đỏ... bệnh có thể gặp ở trẻ em, người lớn nếu không có miễn dịch phòng bệnh, có thể gây thành dịch.

     Bệnh sởi tuy ít gây tử vong nhưng biến chứng có thể gặp là: viêm tai giữa, viêm phổi, tiêu chảy, khô loét giác mạc mắt và đôi khi viêm não sau sởi, đặc biệt ở trẻ em suy dinh dưỡng...

 

1. Nguyên nhân gây bệnh:

     Bệnh sởi do vi rút sởi thuộc nhóm Paramyxovirus gây nên. Đây là loại vi rút có sức chịu đựng yếu, dễ bị tiêu diệt bởi các thuốc sát khuẩn thông thường, ánh sáng mặt trời…virus sởi tồn tại ở họng và máu bệnh nhân từ cuối thời kì ủ bệnh đến sau khi phát ban một thời gian ngắn. Bệnh rất dễ lây, thường gặp ở trẻ em, gây viêm long ở kết mạc mắt, đường hô hấp, tiêu hoá và các phát ban đặc hiệu. Có nhiều biến chứng nặng nề.

2. Đường lây:

- Lây qua đường hô hấp.

- Lây trực tiếp khi bệnh nhân ho, hắt hơi, nói chuyện…

- Lây gián tiếp ít gặp vì virus sởi dễ bị diệt ở ngoại cảnh.    

     Virus sởi có trong hàng triệu hạt nước bọt li ti từ mũi và miệng của người bệnh mỗi khi họ ho hoặc hắt hơi. Bạn có thể dễ dàng bị lây nhiễm bệnh sởi khi hít thở phải các hạt nước bọt này. Bạn cũng có thể nhiễm sởi nếu như để tay mình tiếp xúc với một bề mặt đã có nhiều virus sởi rồi sau đó đưa tay lên miệng hoặc mũi. Virus sởi có thể tồn tại trong môi trường trong vòng vài giờ đồng hồ. Khi đã xâm nhập vào cơ thể, virus sởi sẽ nhanh chóng sinh sôi nảy nở trong vòm họng và trong phổi trước khi lây lan ra toàn bộ cơ thể. Những người mắc bệnh sởi có khả năng lây bệnh cho người khác từ khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên cho đến thời điểm 4 ngày sau khi vết ban đầu tiên xuất hiện. Do đó, người bệnh cần tránh đến trường học, cơ quan… trong vòng ít nhất là 4 ngày từ thời điểm vết ban đầu tiên xuất hiện nhằm tránh lây bệnh cho người khác.

3. Những ai có thể mắc bệnh sởi?

Tất cả những người chưa từng tiêm vaccine và chưa từng bị sởi lần đầu đều có thể bị mắc bệnh sởi. Đối tượng bị mắc bệnh sởi nhiều nhất là các em nhỏ dưới 5 tuổi.

Hiếm khi trẻ dưới 9 tháng tuổi mắc sởi. Nếu nhóm trẻ này mắc sởi thì là do lây từ mẹ (đến đúng thời điểm sinh con thì ba mẹ mắc các bệnh này) và lây từ trẻ khác do miễn dịch từ mẹ chưa đầy đủ để bảo vệ trẻ, do đứa trẻ sinh ra từ những bà mẹ không có kháng thể miễn dịch sởi, hoặc miễn dịch rất ít (bà mẹ chưa từng bị sởi, chưa được tiêm phòng, hoặc tiêm phòng chưa đầy đủ) nên khả năng bảo vệ thấp hoặc trẻ không được bú mẹ thì cũng không có miễn dịch phòng bệnh.

Sau khi bạn đã bị mắc bệnh sởi lần đầu, khả năng bị mắc sởi lần thứ 2 là rất thấp, bởi cơ thể đã tự sản sinh ra kháng thể miễn dịch đối với bệnh sởi.

4. Triệu chứng của bệnh sởi:

a. Thời kì ủ bệnh: 10 -12 ngày.

b. Thời kì khởi phát:

- Hội chứng nhiễm khuẩn: Sốt 38,50C – 400C, nhức đầu, mệt mỏi …

- Hội chứng xuất tiết niêm mạc:

    + Mắt: Kết mạc đỏ, phù mi mắt, chảy nước mắt, sợ ánh sáng.

    + Hô hấp: Sổ mũi, hắt hơi, khản tiếng, ho khan, có khi có ít đờm.

    + Tiêu hoá: Nôn, chớ, đi ngoài phân lỏng.

- Có hạt nội bang: Trên nền niêm mạc má đỏ hồng nổi lên những chấm trắng, nhỏ, đường kính khoảng 1mm.

c. Thời kì toàn phát:

- Sốt cao 39oC - 40oC, có thể mê sảng co giật, trẻ ho nhiều, viêm nhiễm và xuất tiết đường hô hấp, chảy nước mắt, có nhiều dử mắt.


Triệu chứng bệnh sởi (Ảnh minh họa).

- Phát ban với đặc điểm:

+ Là ban rát sẩn, màu đỏ, hồng hay tía. Hình tròn hạt hình bầu dục, to bàng hạt đậu, hay cánh bèo tấm, sờ vào mềm, mịn như sờ vào tấm vải nhung, giữa các ban sởi có khoảng da lành.

+ Thứ tự mọc ban:

Ngày thứ nhất: Ban sởi mọc ở chân tóc, sau tai, sau gáy, trán, má đầu, mặt, cổ.

Ngày thứ hai: Ban mọc tới ngực lưng và hai tay.

Ngày thứ ba: Ban mọc xuống bụng và hai chân.

+ Ban sởi tồn tại hai đến ba ngày rồi lặn theo trình tự đã mọc để lại trên da những vết thâm vằn như da hổ da báo. Khi ban lặn các dấu hiệu lâm sàn khác giảm dần.

5. Biến chứng: Virus sởi phá huỷ lớp biểu mô niêm mạc và hệ thống miễn dịch, làm giảm lượng vitamin A, do đó bạn có nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm khác:

 - Bội nhiễm: Viêm phổi, viêm phế quản, viêm thanh quản, viêm tai giữa.

 - Thần kinh: Viêm não sau sởi .

 - Suy dinh dưỡng do ăn uống kiêng khem.

 - Loét miệng: Các vết loét ở trong miệng, môi lưỡi; vết loét có màu đỏ, được phủ một lớp trắng rất đau. Vết loét có thể sâu, rộng làm cho trẻ ăn khó khăn.

 - Chảy mủ mắt.

 - Mờ giác mạc, đây là dấu hiệu nguy hiểm có thể do thiếu vitamin A.

6. Điều trị  và chăm sóc: Hiện chưa có thuốc đặc trị. Chủ yếu là điều trị triệu chứng, chăm sóc, phòng ngừa và điều trị biến chứng.

 Với thể sởi lành tính, điều trị tại nhà. Cách ly trẻ tại phòng riêng ngay khi trẻ mới sốt và viêm long; bảo đảm thoáng, sáng, tránh gió lùa; không cho tiếp xúc với trẻ khác

Điều trị tại nhà nếu dấu hiệu bệnh nhẹ, không có biến chứng:

- Theo dõi nhiệt độ hàng ngày.

- Nhỏ mắt, nhỏ mũi bằng dung dịch nước muối 9‰ để tránh nhiễm khuẩn.

- Tắm rửa sạch bằng nước ấm để tránh nhiễm trùng và lở loét.

- Dinh dưỡng đầy đủ, thức ăn dễ tiêu và giàu dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin A.

- Cho ăn nhẹ, đủ chất; cho uống nhiều nước (dung dịch oresol, nước quả tươi) khi trẻ sốt cao, tiêu chảy

- Nên nằm phòng riêng (thoáng, sáng, tránh gió lùa).

- Chỉ dùng thuốc kháng sinh khi có chỉ định của thầy thuốc.

- Đưa đến cơ sở y tế ngay khi các dấu hiệu nặng lên:

- Sốt cao, ho nhiều, tiêu chảy nặng…

- Ban sởi lặn hết mà vẫn còn sốt.

- Các dấu hiệu biến chứng về tai, phổi, tiêu hóa, mắt…….

7. Phòng bệnh:

- Áp dụng các biện pháp dự phòng chung như đeo khẩu trang khi đến chỗ đông người hoặc bệnh viện.

- Cần thường xuyên rửa tay bằng các loại thuốc sát trùng nhất là khi vào môi trường bệnh viện.

- Giữ nhà cửa thông thoáng, sạch sẽ.

- Uống đầy đủ nước mỗi ngày (khoảng 1,5 - 2 lít mỗi ngày).

- Bổ sung các loại thực phẩm có nhiều Vitamin A như cà rốt, các loại rau xanh thẫm và các loại quả có màu vàng, màu da cam.

- Chủ động tiêm vắc xin phòng bệnh. Tiêm 1 mũi vắc xin sởi hiệu quả bảo vệ đạt 87%, tiêm 2 mũi hiệu quả đạt 95%. Cách tốt nhất để phòng bệnh sởi là tiêm vaccine tổng hợp MMR (measles, mumps, rubella) dùng tránh sởi, quai bị và rubella.

Hiện nay có tình trạng nhiều phụ huynh không tiêm phòng sởi cho con, do có tin đồn về việc vaccine này gây ra bệnh tự kỷ ở trẻ em. Một số phụ huynh khác thì không tin tưởng vào chương trình tiêm chủng sau nhiều vụ việc trẻ em bị tử vong sau tiêm chủng thời gian gần đây. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chứng minh vaccine MMR không liên quan gì đến bệnh tự kỷ, và tự kỷ là một dạng tổn thương ở não từ khi người mẹ mang thai chứ không do tiêm vaccine. Các trường hợp tử vong nếu do tiêm vaccine cũng chỉ là cá biệt, nếu bỏ qua việc tiêm vaccine cho con là bạn đã đặt con mình trước những nguy cơ mắc các bệnh hiểm nghèo mà y học đã dày công nghiên cứu tìm cách chữa trị bằng vaccine. Khi cộng đồng có nhiều người không tiêm phòng, các dịch bệnh có thể bùng phát dữ dội trở lại.

Hiện có nhiều loại vaccine phòng sởi song chủ yếu chia làm 2 loại, gồm loại đơn và loại phối hợp. Vaccine phòng sởi đơn thường được tiêm mũi 1 khi trẻ được 9 tháng tuổi và mũi 2 nhắc lại khi trẻ 18 tháng tuổi.

Vaccine MMR là vaccine phối hợp. Mũi MMR đầu tiên thường được tiêm cho trẻ 13 tháng tuổi. Mũi MMR thứ 2 được tiêm vào trước thời điểm con của bạn bắt đầu đi học, tức là khi trẻ từ 3-5 tuổi.

Ngay cả trẻ em được tiêm vaccine trước khi đủ 12 tháng tuổi vẫn cần phải được tiêm 2 liều định kì vào thời điểm 13 tháng tuổi và trước khi đi học tiểu học.

Hãy liên hệ với bác sĩ hoặc kiểm tra lại sổ theo dõi tiêm chủng để biết rõ liệu con bạn đã được tiêm vaccine đầy đủ so với độ tuổi hay chưa.

Những người đã được tiêm ít nhất một mũi vaccine sởi thì nếu có mắc sởi cũng bị nhẹ hơn và giảm đáng kể biến chứng.

Người lớn và trẻ từ 6 – 13 tháng tuổi cũng có thể tiêm MMR nếu như họ gặp nguy cơ mắc sởi cao. Ví dụ,trong khu vực đang có dịch sởi bùng phát, hoặc trong trường hợp bạn đang chuẩn bị đi tới các vùng có tỉ lệ nhiễm sởi cao, hoặc trong trường hợp bạn đã tiếp xúc với người bị bệnh sởi, bác sĩ có thể sẽ khuyến cáo tiêm vaccine MMR.

Trong trường hợp bạn không rõ liệu con của mình đã được tiêm vaccine trong quá khứ hay chưa, việc tiêm vaccine thêm một lần nữa cũng sẽ không gây hại gì cả.

- Phát hiện sớm và cách ly người bị sởi./.

(Nguồn: Sưu tầm và tổng hợp)

 
 
 

Đăng ký online

FAPAGE

Liên kết các tổ chức hỗ trợ học nghề

 

 

 

Ảnh Hoạt Động

Vidéo clip

Thống kê

  • Hôm nay: 
  • Tất cả: