Bệnh lây lan qua đường tình dục và cách phòng tránh 

Đã bao giờ bạn tự đặt ra câu hỏi về vấn đề liên quan tới các căn bệnh lây qua đường tình dục chưa? Đại loại như: Bệnh lây qua đường tình dục có bao nhiêu loại? Làm thế nào để phòng tránh bệnh lây qua đường tình dục? Bệnh lây qua đường tình dục có nguy hiểm không? Hôm nay chúng ta hãy cùng đi tìm hiểu những vấn đề xoay quanh các căn bệnh lây qua đường tình dục. Theo những kết quả nghiên cứu mới nhất cho thấy hiện có hơn 20 bệnh lây qua đường tình dục.

Bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQÐTD) là một bệnh rất phổ biến trên thế giới. Ðặc biệt với những trẻ lứa tuổi vị thành niên (VTN). Do điều kiện giáo dục giới tính của nước ta chưa thực sự phát triển, hầu hết trẻ em và ngay cả người lớn khi nói đến vấn đề tình dục và giáo dục giới tính vẫn còn rất e ngại. Vì vậy, việc hiểu biết về bệnh LTQÐTD để phòng tránh là cần thiết.

Ở lứa tuổi VTN, các em đã phát triển đầy đủ về mặt sinh lý, đã có đòi hỏi về mặt tình dục, muốn tò mò, khám phá “mê cung” – nơi mà chúng chưa hề biết, nhưng lại không được giáo dục đầy đủ, thiếu hiểu biết. Do vậy, thực trạng đáng báo động là tỷ lệ nạo phá thai, tỷ lệ trẻ VTN mắc các bệnh LTQĐTD vẫn là một vấn đề đáng lo ngại.

Các tác nhân gây bệnh rất đa dạng và dễ lây bao gồm: Vi khuẩn: lậu, giang mai, hạ cam… Virut: HIV, viêm gan B, viêm gan C, herpes, papilloma… Liên thể vi khuẩn và virut: Chlamydia, Ureaplasma, Mycoplasma… Ký sinh trùng: trùng roi, nấm men… Nguồn gây nên các bệnh LTQĐTD là tinh dịch hoặc dịch do âm đạo tiết ra có chứa mầm bệnh hoặc máu của người bệnh.

Một người lành sẽ bị lây bệnh nếu dịch sinh dục hoặc máu của người bệnh xâm nhập được vào trong cơ thể của người lành qua các con đường sau đây: quan hệ tình dục; do truyền máu bị nhiễm bệnh; lây từ mẹ sang con. Những hoạt động thông thường hằng ngày như: bắt tay, ôm, sử dụng chung   bể bơi, qua mồ hôi, qua hắt xì hơi… không làm lây lan căn bệnh này.

Các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục phổ biến

1. Chlamydia: là một bệnh lây qua đường tình dục thường gặp, gây ra bởi vi khuẩn có tên gọi là Chlamydia trachomatis. Nếu bệnh không được phát hiện, nó có thể lan lên các phần trên của cơ quan sinh dụcgây tổn thương vàtrong trường hợp nặng có thể gây khó khăn cho việc sinh sản về sau. Chlamydia  được xem là một bệnh thầm lặng vì khoảng 75% trường hợp nữ mắc bệnh và hơn 50% trường hợp nam mắc bệnh mà không hề có triệu chứng. Nếu có triệu chứng, thì người bệnh thường có biểu hiện sau 1 đến 3 tuần tiếp xúc với đối tượng nguy cơ. Các triệu chứng bệnh bao gồm ra huyết trắng bất thường, tiểu gắt. Khi bệnh lan lên cổ tử cung, vòi trứng (nơi dẫn trứng vào buồng tử cung để thụ thai), thì một số bệnh nhân nữ vẫn không hề có triệu chứng gì, số khác có thể thấy đau bụng, đau lưng, buồn nôn, sốt, đau khi giao hợp hoặc ra huyết bất thường giữa chu kì. Nam hoặc nữ có quan hệ đường hậu môn khi nhiễm Chlamydia có thể có các triệu chứng như đau trực tràng, chảy dịch bất thường, hoặc chảy máu.

Bệnh Chalmydia thường không có triệu chứng rõ ràng, ở nam giới dễ phát hiện hơn nữ giới

Vì nhiễm Chlamydia thường không có triệu chứng và có thể dẫn đến vô sinh ở nữ nếu không được phát hiện và chữa trị, cơ quan chức năng về y tế công cộng ở các nước phương Tây khuyến cáo nên kiểm tra định kì bệnh Chlamydia cho trẻ gái và phụ nữ trong độ tuổi quan hệtình dục. Cơ quan phòng bệnh đặc nhiệmvà Trung tâm phòng và kiểm soát bệnh của Hoa Kỳkhuyến cáo rằng các bác sĩ nên tiến hành kiểm tra định kì tình trạng nhiễm Chlamydia cho các phụ nữ có quan hệ tình dục từ 25 tuổi trở xuống, và các phụ nữ không triệu chứng, nhưng có nguy cơ cao.

2. Bệnh Lậu: là bệnh lây qua đường tình dục gây ra bởi vi khuẩn lậu, tên khoa học là Neisseria gonorrhoeae. Bệnh lậu lây qua quan hệ bằng dương vật, âm đạo, miệng hay hậu môn với bạn tình mắc bệnh. Triệu chứng xuất hiện sau hai đến năm ngày nhiễm.Ở nam, triệu chứng có thể là cảm giác tiểu gắt, đau hay sưng tinh hoàn. Ở nữ, triệu chứng bệnh lậu thường nhẹ, không điển hình hoặc không có triệu chứng, và thậm chí có thể nhầm sang viêm bàng quang hay viêm âm đạo. Triệu chứng đầu tiên của nữ thường là tiểu gắt, tăng tiết dịch âm đạo bất thường, hoặc ra huyết giữa chu kỳ. Nữ mắc bệnh lậu có nhiều nguy cơ bị biến chứng, bất kể có hay không có triệu chứng, hoặc triệu chứng có nặng hay không.

 

Khi cảm thấy ngứa ngáy, đau, chảy máu âm đạo hay dương vật thì phải đi khám ngay

Triệu chứng khi nhiễm trùng qua đường trực tràng ở nam và nữ bao gồm tiết dịch hậu môn bất thường, ngứa ngáy, đau, chảy máu hoặc đau khi đi tiêu.Nhiễm trùng đường hậu môn đôi khi không có triệu chứng. Nhiễm trùng đường hầu họng có thể gây đau họng, tuy nhiên thường cũng không có triệu chứng  gì. Khi bệnh nhân có triệu chứng đặc hiệu của bệnh Lậu hoặc Chlamydia, kể cả khi kết quả xét nghiệm âm tính, thì hầu hết các bác sĩ vẫn tiến hành điều trị kháng sinh, bởi vì kết quả xét nghiệm có tỉ lệ âm tính giả cao. Vì Lậu và Chlamydia thường đồng nhiễm ,do đó bệnh nhân thường được điều trị phối hợp cả hai bệnh này cùng lúc. Bệnh nhân mắc bệnh Lậu cần được tầm soát các bệnh lây qua đường tình dục khác. Một khi bạn tình được chẩn đoán nhiễm Lậu hoặc Chlamydia, hoặc khi bạn tình có nhiều nguy cơ nhiễm các bệnh này, thì bạn tình cũng cần được điều trị mặc dù họ chưa có triệu chứng, để phòng ngừa lây nhiễm.

3. Giang mai: là một bệnh lây qua đường tình dục gây ra bởivi khuẩn có tên là: Treponema pallidum. Giang mai lây từ người này sang người khác thông qua việc tiếp xúc trực tiếp giữa săn (loét) giang mai khi quan hệ qua đường âm đạo, hậu môn hoặc đường miệng. Săn giang mai thường gặp trên cơ quan sinh dục ngoài như  âm đạo, hậu môn hoặc trực tràng. Săn còn có thể xuất hiện ở môi hoặc bên trong miệng. Giang Mai có 3 thời kì bệnh:

Giang mai thời kì đầu: đặc trưng của thời kì này là các săn không đau, có thể loét xuất hiện trên vùng mà vi khuẩn giang mai xâm nhập. Săn tồn tại từ 3 đến 6 tuần rồi tự hết mà không cần điều trị. Tuy nhiên, nếu không điều trị bệnh sẽ tiến triển sang giang mai giai đoạn 2. 

 

Bệnh Giang Mai với đặc trưng dễ thấy là các đốm trên cơ thể, phát ban hay màu da không đồng đều

** Giang mai thời kì 2: đặc trưng là sự xuất hiện của hồng ban hoặc săn ở 1 hoặc nhiều vùng trên cơ thể. Ban đào xuất hiện khi các săn trước đó đang lành hoặc đã lành được vài tuần. Ban đào thường không ngứa, có màu đỏ hoặc nâu đỏ ở hai lòng bàn tay bàn chân. Ở một số trường hợp, các đào ban này có màu nhạt nên dễ bỏ sót.Những tổn thương to, gồ cao, màu xám hoặc trắng thường xuất hiện ở các vùng ấm, ẩm như miệng, nách và các khớp hang. Một số triệu chứng khác đặc trưng cho thời kì 2 bao gồm: sốt, sưng hạch, rụng tóc từng mảng, sụt cân, đau cơ và mệt mỏi. Các triệu chứng của giang mai thời kì 2 sẽ mất đi cho dù có hoặc không có điều trị. Nếu bệnh không được điều trị thích hợp, bệnh sẽ tiến triển sang giai đoạn tiềm ẩn hoặc giai đoạn 3 (muộn).

*** Giang mai tiềm ẩn: xuất hiện khi tất cả triệu chứng của giang mai thời kì 1 và 2 mất đi. Nếu không điều trị, bệnh nhân có thể vẫn có giang mai trong cơ thể mà không có triệu chứng.Giang mai thời kì này có thể kéo dài nhiều năm.Khoảng  15% người mắc giang mai không được điều trị sẽ bước sang giai đoạn muộn, xuất hiện sau 10 đến 30 năm sau khi nhiễm bệnh. Các triệu chứng giang mai thời kì muộn bao gồm khó vận động cơ, liệt, tê chi, mù từ từ, và bệnh suy giảm trí tuệ.Trong thời kì này, bệnh giang mai tàn phá các cơ quan nội tạng như não, thần kinh, mắt, tim, mạch máu, gan và xương khớp. Những tổn thương này có thể dẫn đến tử vong. (Nguồn: http://www.cdc.gov/STD/syphilis/STDFact-Syphilis.htm).

Bệnh Giang Mai có thể dễ dàng chẩn đoán bằng thử máu, và điều trị bằng kháng sinh.

4. Herpes Sinh dục: là một bệnh lây qua đường tình dục gây ra bởi hai loại virus có tên là Herpes Simplex Virus type 1 và type 2. Hầu hết herpes sinh dục gây ra bởi virus Herpes type 2. Bệnh đặc trưng bởi một hay nhiều bóng nước trên hoặc quanh bộ phận sinh dục, và hậu môn. Bệnh nhân có thể sốt, sưng hạch, và có triệu chứng giống cúm. Bệnh thường tái phát, mặc dù những lần tái phát thường nhẹ hơn và ngắn hơn. Nhiễm Herpes sinh dục là nhiễm cả đời, với diễn tiến không nhất định,từ nhẹ đến tái phát nhiều lần.

Hầu hết những người mắc Herpes sinh dục đều không biết họ đã nhiễm bệnh. Bệnh có thể lây truyền từ người nhiễm bệnh mà không có vết loét. Sử dụng đúng và thường xuyên bao cao su có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh, tuy nhiên, bệnh vẫn có khả năng xảy ra ở những vùng bao cao su không che phủ hết khi quan hệ. Những bệnh nhân có biểu hiện sang thương do Herpes nên kiêng giao hợp với bạn tình chưa bị lây nhiễm.

 

Mụn rộp sinh dục hay còn gọi với tên khoa học là Herpes sinh dục

Virus Herpes type 1 có thể gây ra herpes tại vùng sinh dục, nhưng thường loại virus này gây bệnh ở môi và miệng nên thường gọi là “sốt bóng nước”. Bệnh Herpes sinh dục gây ra bởi virus Herpes typ 1 có thể lây truyền từ miệng sang vùng sinh dục hoặc do sinh hoạt tình dục với bạn tình nhiễm bệnh.

Bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh Herpes thông qua thăm khám hoặc xét nghiệm.Hiện nay, không có thuốc điều trị dứt bệnh Herpes, tuy nhiên, thuốc kháng virus có thể giúp giảm triệu chứng và rút ngắn thời gian bệnh. Thêm vào đó, uống thuốc duy trì có thể ức chế herpes tái diễn, giúp giảm tần suất và mức độ các cơn bùng phát của bệnh và hạn chế lây sang cho bạn tình.

5. Virus Human papilloma (HPV) là bệnh lây qua đường tình dục phổ biến nhất trên thế giới. Một số loại virus HPV có khả năng gây bệnh sùi sinh dục,  trong khi đó một số typ khác có thể gây ung thư cổ tử cung và hậu môn. Ung thư cổ tử cung là nguyên nhân gây tử vong do ung thư đứng hàng thứ hai trên thế giới. Virus  HPV còn có thể gây nhiễm trùng đường miệng và hầu. Hầu hết những người nhiễm HPV thường không có triệu chứng, tuy nhiên, những người này vẫn có khả năng lây nhiễm cho người khác.

Bệnh sùi sinh dục thường bắt đầu bởi 1 nốt nhỏ hoặc một chum nốt nhỏ ở vùng sinh dục.Kích thước có thể nhỏ hoặc to, nhô lên hoặc bằng, hoặc hình dáng như bông cải.Nếu không điều trị, bệnh có thể tự biến mất, hoặc vẫn duy trì hoặc càng ngày càng nhiều nốt hơn.Bệnh đa phần được chẩn đoán qua thăm khám.

 

Không chỉ biểu hiện ở tay, bệnh còn nhiều biểu hiện ở miệng và bộ phận sinh dục

Vaccines có thể giúp ngăn ngừa một số type virus HPV. Gardasil là loại vaccine ngừa virus HPV types 6, 11, 16, and 18, thuốc này có thể giúp ngừa khoảng 70% of ung thư cổ tử cung và 90% sùi sinh dục. Loại vaccine này được khuyến cáo cho cả nam và nữ trong độ tuổi từ 9 đến 26 tuổi và cần tiêm 3 lần cách nhau 6 tháng.

6. Viêm gan siêu vi B: được gây ra bởi loại virus làm viêm gan. Viêm gan nghĩa là nhiễm trùng tại gan. Viêm gan siêu vi B lây truyền qua đường tình dục, máu và lây truyền từ mẹ sang con. Loại virus này gặp nhiều ở Việt Nam mặc dù tỉ lệ mắc có giảm xuống nhờ chương trình tiêm chủng quốc gia cho trẻ nhỏ.  Nếu một đứa trẻ nhiễm virus lúc mới sanh, khoảnh 90% bệnh sẽ tiến triển mạn tính, do đó các phụ nữ mang thai nên được kiểm tra bệnh và điều trị trước khi sanh.

 

Viêm gan siêu vi B có thể không có trệu chứng nhưng lại đe dọa tính mạng

Bệnh viêm gan siêu vi B cấp có thể không triệu chứng, nhưng cũng có thể đe dọa tính mạng. Triệu chứng bệnh bao gồm: sốt, mệt mỏi, ăn không ngon, buồn nôn, nôn, đau bụng, nước tiểu đậm, vàng da vàng mắt. Sau cơn cấp của bệnh viêm gan, khoảng 80% bệnh nhân sẽ khỏi hoàn toàn và có kháng thể. Số còn lại có thể chuyển sang mãn tính hoặc viêm gan kéo dài. Biến chứng bệnh bao gồm xơ gan và ung thư tế bào gan. Điều trị viêm gan siêu vi B có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ bị ung thư gan.

Cách tốt nhất để phòng chống viêm gan siêu vi B là vaccine. Vaccine này tiêm thành 3 đợttrong vòng 4 đến 6 tháng.Cũng có thể tiêm 4 đợt, 3 mũi đầu trong vòng 2 tháng, mũi thứ 4 chích lúc 12 tháng. Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa kỳ (cơ quan chức năng hướng dẫn điều trị bệnh truyền nhiễm),việc kiểm tra định kỳ mức kháng thểsau khi được tiêm ngừaở người có miễn dịch bình thường là không cần thiết, và liều vaccine tăng cường cũng không được khuyến cáo.

7. Virus HIV: là loại virus làm suy giảm miễn dịch trên người. Hiện nay có 32 triệu người trên thế giới đang mắc bệnh. Theo Cục quản lý bệnh HIV/AIDS tại Việt Nam, trong năm 2012 có 210,000người đang sống với HIV tại Việt Nam, tỉ lệ là 0.25%. Mặc dù dịch tể HIV tại Việt Nam tập trung vào những người nghiện ma túy và mại dâm, nhưng tỉ lệ người mắc bệnh do lây truyền qua tình dục khác giới cũng đang tăng cao.

BệnhHIV lây truyền qua đường tình dục, máu và từ mẹ sang con. Loại virus này tập trung chủ yếu ở máu, tinh trùng, sữa và dịch âm đạo.Có ít virus tồn tại trong nước bọt hay nước tiểu (tuy nhiên nước tiểu có thể lẫn tinh trùng trong đó).Bệnh HIV không lây truyền qua đường muỗi chích.

Bệnh HIV tiềm ẩn khoảng từ 5-10 năm, trong khoảng thời gian đó, bệnh nhân hầu như có rất ít hoặc không có triệu chứng. Do đó nhiều người không biết mình đã nhiễm bệnh và có thể lây cho người khác. Loại virus này từ từ phá hủy hệ thống miễn dịch trong cơ thể, và bệnh nhân dần dần bị nhiễm trùng, đặc biệt là viêm phổi, viêm màng não, lao, và các bệnh khác. Giai đoạn này người ta gọi AIDS.

Cách phòng bệnh LTQĐTD như thế nào? 

-  Rất nhiều bệnh LTQĐTD không thể hiện dấu hiệu rõ ràng cho dù là nam hay nữ, vì thế người mắc có thể không biết rằng mình đã bị mắc bệnh, nhưng họ vẫn có thể làm lây bệnh cho người khác. Đây chính là đặc điểm rất nguy hiểm và cũng là nguyên nhân làm cho bệnh LTQĐTD rất dễ lây lan, khó phòng tránh nếu không có đầy đủ hiểu biết và đề phòng.

-  Mỗi một bệnh LTQĐTD có những biểu hiện lâm sàng khác nhau nên khi có các biểu hiện dưới đây thì cần phải đi khám để kịp thời phát hiện và điều trị đúng bệnh: có dịch bất thường chảy ra từ âm đạo hoặc đầu dương vật; hậu môn hoặc cơ quan sinh dục bị ngứa, đau, đỏ, rát hoặc có các nốt, các vết loét bất thường, các tổn thương này có thể đau hoặc không đau; tiểu đau, buốt hoặc rát, tiểu nhiều hơn bình thường; đau bất thường ở vùng bụng dưới mà không liên quan gì tới việc hành kinh; trên da có nhiều mụn cóc hoặc các mụn phỏng rộp đau, chảy nước, hoặc có lốm đốm đỏ, các u nhọt quanh miệng hoặc cơ quan sinh dục, nổi hạch ở vùng bẹn… Đau nhiều khi giao hợp hoặc có ra máu sau quan hệ tình dục.

-   Mặc dù bệnh LTQĐTD rất dễ lây nhưng không phải là không có cách phòng tránh. Để tránh lây nhiễm LTQĐTD, cần tránh để dịch hay máu của người khác vào cơ thể mình bằng cách:

-   Không quan hệ tình dục trước hôn nhân.

-   Sống chung thủy, thực hiện một vợ một chồng, một bạn tình duy nhất.

-   Không quan hệ tình dục với đối tượng làm nghề mại dâm, với nhiều   bạn tình hoặc với bạn tình đang mắc LTQĐTD.

-   Luôn sử dụng bao cao su đúng cách trong quan hệ tình dục.

-   Không truyền máu nếu như máu đó chưa được xét nghiệm sàng lọc virut viêm gan B, HIV…

-   Cẩn thận khi phải tiếp xúc với những vật có dính máu tươi hay dịch tiết sinh dục.

-   Không sờ trực tiếp vào máu, tinh dịch hay dịch tiết âm đạo, đặc biệt trong trường hợp tay bị trầy xước, không để máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo tiếp xúc trực tiếp với bất kỳ vùng da nào của mình có vết trầy xước hay vết loét.

-   Không dùng bất cứ dụng cụ nào để tiêm, chích qua da nếu dụng cụ đó chưa khử khuẩn hoặc nghi ngờ chưa được khử khuẩn.

-   Trong trường hợp phải dùng bơm, kim tiêm, cần phải sử dụng bơm kim tiêm sạch (bơm kim tiêm dùng 1 lần).

-   Khi thấy bất cứ một dấu hiệu nghi ngờ bị bệnh LTQĐTD, cần phải đi khám và điều trị càng sớm càng tốt. Luôn luôn nhớ là phải điều trị cho cả hai người cùng một lúc. Trong thời gian điều trị, tốt nhất không nên quan hệ tình dục, nếu có phải sử dụng bao cao su an toàn.

-   Đi khám và điều trị sớm khi có bệnh. Cần nhớ là phải điều trị cho cả hai người. Trong thời gian điều trị, tốt nhất không nên quan hệ tình dục, nếu có phải sử dụng bao cao su. Cần hiểu biết về cách thức tình dục an toàn.

-   Khám sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần.

Tuyết Như (ST).